“Dịch bệnh kéo theo nhiều khó khăn, nhưng tâm lý cộng đồng doanh nghiệp chưa có sự xáo trộn lớn như giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới. Chúng ta đang thấy có sự bình tĩnh, chia sẻ thẳng thắn để cùng vượt qua biến động”, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Nghiên cứu Tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định với Trí Thức Trẻ.

    –> Nhìn vào các số liệu của quý I/2020, theo ông, đâu là những điểm cần lưu tâm?

    Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 3,82%, đã suy giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái và cách xa mục tiêu đề ra cho cả năm. Đây cũng là mức thấp nhất so với cùng kỳ kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Chính phủ chưa có thông điệp về điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng nhưng quyết tâm của Việt Nam trong năm nay sẽ gặp nhiều thử thách.

    Thứ hai, lạm phát đã nhích hơn so với cùng kỳ năm 2019 cũng như mặt bằng chung trong nhiều năm vừa qua. Với kỳ vọng mà Việt Nam đã giữ được trong nhiều năm về thực hiện mục tiêu lạm phát bình quân dưới 4%, rõ ràng kết quả thực hiện trong quý I – hơn 5,56% – là tương đối cao. Dù Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc kiềm chế lạm phát, thì đây vẫn là con số cần lưu tâm. Cách thức điều hành trong thời gian tới sẽ phải cân nhắc vấn đề trên.

    Thứ ba, giải ngân đầu tư công có phần nhanh hơn trong quý I/2020. Chuyển biến này có được là nhờ nỗ lực nhất quán từ những năm trước cho tới quý I/2020 nhằm thúc đẩy giải ngân đầu tư công. Tuy nhiên, kết quả thực hiện vẫn còn tương đối xa so với mục tiêu đề ra. Để bù đắp tăng trưởng thì việc giải ngân hiệu quả vốn đầu tư công trong năm 2020 có ý nghĩa hết sức quan trọng.

    Nhìn một cách tích cực thì có thể “mượn” áp lực từ đại dịch COVID-19 để thúc đẩy giải ngân đầu tư công.

    Cuối cùng là thặng dư thương mại hàng hóa lớn (3,74 tỷ USD). Đáng lưu ý, xuất khẩu tăng nhanh hơn, trong khi nhập khẩu suy giảm so với cùng kỳ năm ngoái.

    Dù vậy, xuất khẩu Việt Nam gắn nhiều với chuỗi giá trị và phải dựa một phần vào nguyên liệu đầu vào nhập khẩu. Do vậy, từ quý II trở đi, nếu tình hình không chuyển biến, cả xuất khẩu và nhập khẩu sẽ gặp thách thức. Khả năng duy trì sản xuất và xuất khẩu sẽ là dấu hỏi lớn

    –> Nếu đánh giá tổng thể, cảm nhận của ông về kinh tế Việt Nam trong 3 tháng ứng phó với dịch bệnh như thế nào?

    Số liệu thì như vậy, nhưng tôi nhận thấy nền kinh tế đã thể hiện được sức chống chịu tương đối tốt trước những diễn biến bất lợi của đại dịch nói riêng, kinh tế thế giới nói chung.

    Khó khăn hiện hữu, các kiến nghị của doanh nghiệp thường xuyên được ghi nhận và cho thấy sự bức thiết, nhưng nhìn chung, tâm lý của cộng đồng doanh nghiệp chưa có sự xáo trộn lớn. Doanh nghiệp vẫn giữ được sự bình tĩnh và có những chia sẻ, đề xuất hỗ trợ thẳng thắn. Tâm lý của cơ quan điều hành cũng vậy. Đây là khác biệt căn bản nhất so với giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới.

    Chuyển biến này tạo thuận lợi không nhỏ cho công tác điều hành của Chính phủ trong hiện tại. Đồng thời, nó cũng phản ánh một phần nền tảng kinh tế vĩ mô và sức chống chịu của nền kinh tế được cải thiện đáng kể. Bản thân các doanh nghiệp cũng đã có sự thích ứng với khó khăn, đặc biệt là tổ chức sản xuất trong điều kiện giãn cách xã hội, ứng dụng nền tảng trực tuyến,…

    Nếu không như vậy, số liệu kinh tế trong quý I thậm chí có thể còn kém tích cực hơn. Nhìn từ góc độ ấy, tôi tin rằng ngay sau khi dịch Covid-19 kết thúc, kinh tế Việt Nam có thể thể hiện sức bật đáng kể và phục hồi tương đối nhanh chóng.

    –> Vậy kịch bản tăng trưởng của Việt Nam sẽ đi theo hình gì?

    Suy giảm tăng trưởng trong giai đoạn dịch, thậm chí ngay sau khi kết thúc dịch, là khó tránh khỏi ở hầu hết các nền kinh tế và Việt Nam không ngoại lệ. Tuy nhiên, vẫn có những biện pháp có thể áp dụng để mức độ suy giảm ít nghiêm trọng và/hoặc “thu ngắn” thời kỳ suy giảm.

    Thứ nhất, Chính phủ cần có những hỗ trợ kịp thời, tập trung và đúng liều lượng. Tháo gỡ khó khăn về thị trường và cung ứng hàng hóa, song hành với điều tiết, cắt giảm chi phí sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp duy trì sức sống qua thời kỳ đại dịch.

    Thứ hai, phát huy được tính linh hoạt, sáng tạo của doanh nghiệp Việt. Hỗ trợ của Chính phủ đang và sẽ được thực hiện, nhưng Chính phủ không nên và không thể làm thay nỗ lực của chính doanh nghiệp được. Sự phát huy ấy càng phải được thể hiện ở việc Chính phủ đủ linh hoạt, sáng tạo để thích ứng cùng doanh nghiệp. Chẳng hạn, nỗ lực chuyển đổi số của doanh nghiệp sẽ bớt ý nghĩa nếu Chính phủ không có nỗ lực song hành để hướng tới Chính phủ số.

    Thứ ba, có sự kết nối trong cộng đồng doanh nghiệp và giữa Chính phủ – doanh nghiệp để thúc đẩy được những cách làm, mô hình mới. Sự bình tĩnh, chia sẻ thẳng thắn giữa Chính phủ và doanh nghiệp trong thời gian qua chính là nền tảng cho kết nối ấy.

    Cả 3 yếu tố này có tác động bổ trợ. Nếu càng thực hiện hiệu quả các yêu cầu trên, sức bật của nền kinh tế hậu COVID-19 càng tích cực.

    Trích nguồn từ: Cafef


    BÌNH LUẬN BÀI VIẾT Vì sao kinh tế Việt Nam có sức bật tốt, sẽ phục hồi nhanh hậu dịch Covid-19?


    Bình luận

    Ngoài Họ tên (*), Email hoặc Số điện thoại là trường bắt buộc. Thông tin của Quý khách sẽ không được công khai.